Giới thiệu về lý thuyết sóng Elliott

0
288

Ralph Nelson Elliott là người đã phát triển lý thuyết sóng Elliott vào những năm 1930. Elliott tin rằng thị trường chứng khoán, vốn hay được cho là hoạt động một cách khá ngẫu nhiên và hỗn loạn, trên thực tế lại giao dịch theo các mô hình có tính lặp lại.

Bài viết này sẽ giúp nhìn lại nguồn gốc của lý thuyết sóng Elliott và cách thức áp dụng chúng trong giao dịch.

Những con sóng

Elliott đề xuất rằng xu hướng giá cả xuất phát từ tâm lý đám đông của các nhà đầu tư. Ông nhận thấy những dao động trong tâm lý số đông luôn xuất hiện theo cùng một mô hình phân dạng (fractal) định kỳ, hay còn gọi là “sóng” trên thị trường tài chính.

Lý thuyết của Elliott phần nào giống với lý thuyết Dow ở chỗ cả hai đều nhận thấy giá cổ phiếu di chuyển theo các đợt sóng. Tuy nhiên, vì Elliott còn nhận ra thêm bản chất “phân dạng” của thị trường, nên ông là người đã chia nhỏ và phân tích chúng chi tiết hơn. Phân dạng là những cấu trúc toán học có tính lặp lại vô hạn ở mọi tỉ lệ phóng đại. Elliott phát hiện ra rằng các mô hình giá chỉ số chứng khoán cũng có cùng cấu trúc này. Sau đó, ông bắt đầu nghiên cứu cách thức các mô hình lặp đi lặp lại này có thể được sử dụng làm chỉ báo nhằm dự đoán các thay đổi thị trường trong tương lai.

Elliott Wave Theory

Dự đoán thị trường dựa vào các mẫu hình sóng

Elliott đưa ra các dự đoán chi tiết về thị trường chứng khoán dựa trên những đặc điểm đáng tin cậy mà ông đã phát hiện về các mô hình sóng. Một mô hình sóng động lực, biến động cùng hướng với xu hướng chung, luôn bao gồm 5 con sóng. Ngược lại, sóng điều chỉnh là sóng di chuyển theo hướng trái ngược với xu hướng chính. Trong khi đó ở phạm vi nhỏ hơn, mỗi con sóng động lực lại gồm có 5 con sóng nhỏ.

Mô hình này được lặp đi lặp lại mãi xuống các cấp độ quy mô ngày càng nhỏ. Elliott đã khám phá ra cấu trúc phân dạng trên thị trường tài chính từ những năm 1930, nhưng chỉ vài thập kỷ sau, các nhà khoa học mới chính thức phát hiện ra Phân dạng và chứng minh chúng bằng toán học.

Trên thị trường tài chính, chúng ta biết rằng “thứ gì đi lên rồi cũng phải đi xuống”, và giá cả dù có tăng hay giảm thì cũng sẽ luôn được tiếp nối bởi một biến động ngược chiều. Hành vi giá được chia thành các xu hướng và các đợt điều chỉnh. Xu hướng thể hiện hướng biến động chính của giá, trong khi các đợt điều chỉnh đi ngược lại xu hướng.

Mô tả lý thuyết sóng Elliott

Lý thuyết sóng Elliott được diễn giải như sau:

– Có 5 con sóng di chuyển cùng chiều với xu hướng chính, nối tiếp bởi 3 con sóng của một đợt điều chỉnh (tạo thành đợt sóng 5-3). Đợt sóng 5-3 này lại trở thành 2 con sóng nhỏ của đợt sóng cấp độ lớn hơn.

– Mô hình 5-3 cơ bản không đổi, mặc dù thời gian kéo dài của mỗi sóng có thể khác nhau.

Hãy cùng xem biểu đồ sau được tạo thành từ 8 sóng (5 sóng tăng lên và 3 sóng giảm xuống) đánh thứ tự lần lượt 1, 2, 3, 4, 5 và A, B, C.

Elliott Wave Theory

Các sóng 1, 2, 3, 4 và 5 tạo thành một sóng động lực, còn các sóng A, B và C tạo thành một sóng điều chỉnh. Lần lượt, 5 sóng động lực gộp lại thành sóng lớn số 1, còn 3 sóng điều chỉnh tạo thành sóng lớn số 2 của đợt sóng có cấp độ lớn hơn.

Sóng điều chỉnh thường có 3 biến động giá riêng biệt – 2 cùng hướng với sự điều chỉnh chính (A và C) và 1 theo hướng ngược lại (B). Các sóng 2 và 4 trong hình trên là sóng điều chỉnh. Những sóng này thường có cấu trúc như sau:

Elliott Wave Theory Two

Có thể thấy ở trên hình, sóng A và C di chuyển cùng chiều với xu hướng lớn hơn một cấp độ và do đó, đều là sóng động lực gồm 5 sóng nhỏ. Ngược lại, sóng B ngược chiều với xu hướng nên là sóng điều chỉnh và bao gồm 3 sóng nhỏ.

Sự hình thành sóng động lực tiếp nối bởi một sóng điều chỉnh, tạo thành sóng Elliott trong đó có cả xu hướng và ngược xu hướng.

Như có thể thấy trong hình trên, không phải lúc nào 5 sóng cũng di chuyển theo hướng đi lên và 3 sóng không phải lúc nào cũng hướng xuống. Ví dụ, khi xu hướng chung đang giảm xuống, thì chuỗi 5 sóng cũng sẽ hướng xuống.

Cấp độ sóng

Elliott đã xác định được 9 cấp độ sóng, được được phân chia từ lớn nhất xuống nhỏ nhất như sau:

  1. Grand Super Cycle: sóng siêu chu kỳ lớn
  2. Super Cycle: sóng siêu chu kỳ
  3. Cycle: sóng chu kỳ
  4. Primary: sóng chính
  5. Intermediate: sóng trung bình
  6. Minor: sóng nhỏ
  7. Minute: sóng khá nhỏ
  8. Minuette: sóng rất nhỏ
  9. Subminutte: sóng siêu nhỏ

Vì sóng Elliott là một phân dạng, cấp độ sóng về mặt lý thuyết mở rộng ngày càng lớn và ngày càng nhỏ hơn những điều cơ bản được liệt kê ở trên.

Để sử dụng lý thuyết này trong giao dịch hàng ngày, trader có thể xác định một làn sóng sóng động lực có xu hướng tăng, mua vào, sau đó bán hoặc bán khống khi mô hình hoàn thành 5 sóng và sự đảo chiều sắp xảy ra.

Mức độ phổ biến của lý thuyết sóng Elliott

Vào những năm 1970, lý thuyết sóng Elliott đã trở nên phổ biến nhờ vào công trình nghiên cứu của A.J. Frost và Robert Prechter. Trong cuốn sách “Nguyên tắc sóng Elliott: Chìa khóa cho hành vi thị trường” giờ đã trở thành huyền thoại của họ, các tác giả đã dự đoán về thị trường tăng giá trong những năm 1980. Prechter sau đó đã đưa ra khuyến nghị bán chỉ vài ngày trước sự sụp đổ thị trường năm 1987.

Kết luận

Những người thực hành theo lý thuyết sóng Elliott nhấn mạnh rằng chỉ bởi thị trường có tính phân dạng không có nghĩa là nó có thể dễ dàng dự đoán được. Các nhà khoa học công nhận một cái cây có tính phân dạng, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi người có thể phán đoán được hướng phát triển của từng nhánh cây. Về mặt ứng dụng thực tế, nguyên lý sóng Elliott cũng có phe ủng hộ và phe phản đổi giống như mọi phương pháp phân tích khác.

Một trong những điểm yếu chính của lý thuyết này là những người thực hành theo lý thuyết này luôn có thể đổ lỗi cho việc nhận dạng sai biểu đồ của họ thay vì thừa nhận những điểm yếu về mặt lý thuyết. Không có điều này, khó có thể giải thích được về thời gian diễn ra trọn vẹn một sóng. Điều này cũng thể hiện rằng, các trader ủng hộ lý thuyết sóng Elliott bảo vệ nó rất nhiệt huyết.

Nhatkytraders

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá:

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận