Google search engine
Trang chủKiến ThứcLạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát

Lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát

Lạm phát là một trong những chỉ tiêu quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ngoài việc phản ánh sức khỏe của nền kinh tế, lạm phát còn thể hiện những khó khăn và sức mạnh của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đó như ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, thưa các nhà đầu tư? Cùng tìm hiểu về tất cả trong bài viết này.

Lạm phát là gì?

Lạm phát là tình trạng trong đó mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ cao hơn một thời điểm nào đó trong quá khứ. Mốc thời gian này thường từ 1 năm trở xuống. Khi mức giá chung tăng lên, người tiêu dùng mua ít mặt hàng hơn với cùng số lượng so với trước đây.

Do đó, lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh sự suy giảm sức mua của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia. Lạm phát được hiểu là sự sụt giá của đồng tiền quốc gia so với đồng tiền của các nước khác so với các nền kinh tế khác, hay nói cách khác là sự mất giá của đồng tiền quốc gia so với ngoại tệ.

Ví dụ lạm phát: Bạn có thể hình dung lạm phát như sau: 10.000 đồng, nếu năm ngoái bạn mua 1 ổ bánh mì thì năm nay bạn chỉ mua được 2/3. Hay năm ngoái, với 10.000 đồng bạn mua được một ổ bánh mì thì năm nay, để mua được ổ bánh mì tương tự, bạn phải trả 16.000 đồng.

Lạm phát là gì?

Lạm phát được phân loại theo bản chất

Lạm phát kỳ vọng: là quốc gia, người dân dự đoán về mức tăng giá trong tương lai của một quốc gia dựa trên mức lạm phát trong quá khứ. Loại lạm phát này không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế vì nó đã nằm trong dự báo.

Lạm phát bất ngờ: Do các yếu tố bên trong và bên ngoài nền kinh tế đẩy giá cả lên quá cao, bất ngờ, ngoài tầm kiểm soát.

Các mức độ của lạm phát

Lạm phát tự nhiên

Với lạm phát tự nhiên, mặt bằng giá chung của hàng hóa và dịch vụ tăng khá chậm, ổn định và có thể đoán trước được. Nền kinh tế nhìn chung bình thường, lãi suất huy động ở mức trung bình, đời sống ổn định. Ví dụ: nền kinh tế Hoa Kỳ có mục tiêu lạm phát là 2% và chính sách của Fed sẽ luôn nhắm mục tiêu đó. Với mục tiêu lạm phát là 2%, mức giá chung ở Hoa Kỳ sẽ tăng 2% mỗi năm. Nếu người Mỹ chi 10 đô la cho bánh pizza trong năm nay, họ sẽ phải chi 10,20 đô la cho cùng một chiếc bánh pizza vào năm sau.

Các nước phát triển và đang phát triển là những nước có thể duy trì mức lạm phát tự nhiên này. Một số quốc gia có lạm phát tự nhiên như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Việt Nam. Đây là mức lạm phát mà các quốc gia đều mong muốn đạt được.

Lạm phát phi mã

Giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng nhanh và thị trường tài chính trở nên bất ổn. Lúc này, mọi người bắt đầu lo lắng về việc tích trữ, và lãi suất sẽ cao hơn bình thường. Đồng tiền của nước này mất giá trầm trọng kéo theo nhiều hệ lụy cho nền kinh tế.

Siêu lạm phát ở một số nước như Venezuela, Ukraine, Syria, Sudan, Iran,..

Siêu lạm phát

Sự gia tăng quá mức, nhanh chóng và mất kiểm soát của giá hàng hóa và dịch vụ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Trong khi lạm phát tự nhiên được đo lường hàng năm, siêu lạm phát khiến giá cả tăng từ 5% đến 10% mỗi ngày. Nguyên nhân chính của siêu lạm phát ở các quốc gia khác nhau là do chiến tranh hoặc bất ổn kinh tế trầm trọng.

Các quốc gia đã trải qua siêu lạm phát bao gồm Đức, Venezuela, Zimbabwe và Hungary.

Xem thêm

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có nhiều lý do dẫn đến lạm phát ở một quốc gia và các trường phái kinh tế sẽ có những lập luận khác nhau. Đối với các nhà phân tích của trường phái kinh tế học Keynes, lạm phát chủ yếu đến từ áp lực lên chính nền kinh tế. Ngược lại, những người theo quan điểm tiền tệ lại cho rằng các chính sách làm tăng hoặc giảm cung tiền là nguyên nhân của lạm phát/giảm phát.

Lạm phát do cầu kéo

Tức là cầu lớn hơn cung → giá cả tăng → lạm phát.

Cầu kéo là sự mất cân bằng giữa cung và cầu, khi nhu cầu đối với một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định tăng lên, lượng cầu tăng lên, làm cho các doanh nghiệp tăng giá của hàng hóa và dịch vụ đó. Điều này dẫn đến giá cao hơn cho nhiều hàng hóa và dịch vụ khác. Lạm phát xảy ra.

Có 4 lý do giải thích cho lạm phát do cầu kéo.

  • Đầu tiên là sự lạc quan về nền kinh tế. Điều này khuyến khích họ mua nhiều hơn và nhu cầu tăng lên, đẩy giá của sản phẩm lên.
  • Thứ hai, do sự gia tăng bất thường trong chi tiêu của chính phủ, khi chính phủ mở rộng túi tiền, lượng cầu về cơ bản tăng lên dẫn đến giá cả cao hơn.
  • Thứ ba, xuất khẩu tăng đột biến, khi xuất khẩu tăng thì lượng hàng thu để xuất khẩu tăng làm cho lưu thông hàng hóa trong nước giảm, cung ít hơn cầu → giá cả tăng.
  • Thứ tư, do cung tiền tăng. Lạm phát xảy ra khi một chính phủ bội chi và in tiền để lấy tiền. Hoặc khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ của công chúng để chống phá giá đồng nội tệ làm tăng lượng tiền trong lưu thông → lạm phát.

Lạm phát do chi phí đẩy 

Khi tổng các chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên thì phải tăng giá vốn hàng hóa và dịch vụ để đảm bảo lợi nhuận. Kể từ đó, giá của các mặt hàng khác đã tăng và mặt bằng giá chung của nền kinh tế cũng tăng theo.

Một trong những chi phí có thể làm tăng lạm phát là chi phí nguyên vật liệu đầu vào. Ở Việt Nam, các công ty nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, một khi giá nước ngoài tăng thì giá trong nước có tăng không? Hiện tượng này được gọi là “lạm phát đầu vào”.

Ngoài ra, năng lực doanh nghiệp yếu kém cũng góp phần gây ra lạm phát. Khi hiệu quả sản xuất thấp, cộng với sức ép tăng lương cho công nhân, các công ty phải tăng chi phí để đảm bảo lợi nhuận → lạm phát.

Lạm phát do chi phí đẩy cũng xuất phát từ việc chính phủ tăng thuế, thiên tai và dịch bệnh đẩy các chi phí khác nhau lên → giá cả hàng hóa → lạm phát.

Các chỉ số đo lường lạm phát

Mỗi nền kinh tế trên thế giới sẽ có một cách đo lạm phát khác nhau, nhưng có hai chỉ số cơ bản và được sử dụng rộng rãi nhất là CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) và GDP Deflator (Chỉ số điều chỉnh GDP)

CPI: là chỉ số đo lường mức giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định mà một người tiêu dùng thông thường chi tiêu để tiêu dùng.

Chỉ số CPI chỉ tính hàng hóa và dịch vụ được sử dụng bởi các hộ gia đình, bao gồm cả hàng nhập khẩu và có thể được đo lường hàng tháng.

Chỉ số GDP Deflator là một biểu hiện của sự biến động trong mức giá chung của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia và là thước đo so sánh giữa GDP thực tế và GDP danh nghĩa.

Chỉ số GDP Deflator bao gồm chi tiêu của doanh nghiệp và chính phủ đối với hàng hóa và dịch vụ, không bao gồm nhập khẩu, và cần được đo lường hàng năm để có độ tin cậy cao.

Do đó, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong các chỉ số này.

Kết luận

Lạm phát không phải là một chủ đề hàn lâm nên không chỉ của các nhà phân tích, kinh tế học hay chính phủ, mà lạm phát là mối quan tâm của tất cả người dân và nhà đầu tư. Hy vọng với những gì Nhatkytraders chia sẻ trong bài viết này, bạn đã có được những kiến ​​thức cơ bản nhất về lạm phát, càng cần biết nếu bạn là nhà đầu tư trên thị trường tài chính, mức độ ảnh hưởng của nó và mối quan hệ giữa lạm phát và các yếu tố kinh tế khác. để từ đó theo dõi, lựa chọn và xây dựng danh mục đầu tư phù hợp và hiệu quả nhất.

Nhatkytraders.

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá:

BÀI VIẾT LIÊN QUAN KHÁC
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
ĐÁNH GIÁ SÀN
spot_img
BÀI VIẾT NỔI BẬT