Sự khác nhau giữa quỹ ETF và quỹ chỉ số

0
305

nhatkytraders.com – Các quỹ ETF có thể được mua và bán theo giá dao động trong suốt cả ngày, trong khi quỹ chỉ số chỉ có thể được giao dịch tại mức giá chốt vào cuối ngày giao dịch.

Sự khác nhau giữa quỹ ETF và quỹ chỉ số

  • Quỹ hoán đổi giao dịch hay còn gọi là quỹ ETF là một loại chứng khoán theo dõi một tài sản cơ sở.
  • Quỹ chỉ số là một loại quỹ tương hỗ hoặc ETF theo dõi hoạt động của một chỉ số cụ thể.
  • Cả hai đều có thể mang lại lợi nhuận lâu dài, tính đa dạng hóa với chi phí tiết kiệm.

Sự đa dạng hóa là một yếu tố phải xem xét khi đầu tư. Về cơ bản, đa dạng hóa trong đầu tư nghĩa là sở hữu kết hợp các loại tài sản khác nhau và các tài sản cùng loại khác nhau.

Đầu tư vào các quỹ chỉ số và quỹ hoán đổi giao dịch, (hay ETF) là cách dễ dàng để đa dạng hóa danh mục đầu tư. Các quỹ này gộp nhiều chứng khoán vào một khoản đầu tư, giúp mở rộng phạm vi đầu tư của bạn hơn với nhiều công ty khác nhau.

Ông Chris Berkel, cố vấn đầu tư và cũng là người sáng lập AXIS Financial ở Edmond cho biết “Bạn không thể mua trực tiếp các chỉ số thị trường chứng khoán như S&P 500, Nasdaq và Dow Jones. Tuy nhiên, bạn có thể đầu tư vào quỹ theo dõi chúng.”

Dưới đây là những điều cần biết về ETF và quỹ chỉ số và sự khác biệt giữa chúng.

Sơ lược về ETF và quỹ chỉ số

Các quỹ hoán đổi giao dịch và quỹ chỉ số đều kết hợp nhiều chứng khoán riêng lẻ, như cổ phiếu hoặc trái phiếu, thành một khoản đầu tư chung. Điều này mang lại tính đa dạng hóa cao. Cả hai loại quỹ cũng thường được quản lý theo cách thụ động giúp tiết kiệm chi phí và mang lại lợi nhuận mạnh mẽ lâu dài.

  • ETF là một loại chứng khoán theo dõi một tài sản cơ sở ví dụ như một chỉ số, một loại hàng hóa cụ thể hoặc một hỗn hợp gồm nhiều tài sản.
  • Quỹ chỉ số là một loại quỹ tương hỗ hoặc quỹ ETF thường theo dõi động thái của một chỉ số cụ thể.

Một trong những điểm khác biệt chính giữa ETF và quỹ chỉ số là cách chúng được giao dịch. ETF có thể được mua và bán theo giá dao động trong suốt cả ngày, trong khi quỹ chỉ số chỉ có thể được giao dịch ở mức giá được chốt vào cuối ngày giao dịch. Ngoài ra, ETF có thể yêu cầu khoản đầu tư ban đầu thấp hơn và bị đánh thuế thấp hơn so với quỹ chỉ số.

Thông tin bên lề: Đầu tư thụ động sử dụng chiến lược “mua và nắm giữ”. Đây là một cách tiếp cận dài hạn, trong đó các nhà đầu tư mua và bám vào danh mục tài sản đã được đa dạng hóa. Với đầu tư chủ động, các nhà đầu tư thường xuyên thực hiện các giao dịch mua và bán hoặc họ ủy quyền cho người quản lý danh mục đầu tư quyết định các giao dịch. Tuy nhiên, có đến 90% các quỹ được quản lý theo cách chủ động hoạt động kém hơn so với chỉ số cơ sở của chúng.

ETF là gì?

ETF là công cụ đầu tư mà bạn có thể mua và bán trên thị trường giống như cổ phiếu.

Nhưng thay vì đại diện cho cổ phần của một công ty, “ETF thường là một nhóm các chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, quyền chọn hoặc kết hợp giữa các loại”, Berkel cho biết “Các tổ chức phát hành ETF có thể chọn theo dõi một chỉ số hoặc cùng một chút điều chỉnh trên chỉ số đó để giải quyết những bất thường của thị trường cụ thể.”

Ví dụ: ETF có thể được xây dựng để theo dõi một chỉ số thị trường, như S&P 500 hoặc chỉ số các tài sản khác như một loại hàng hóa cụ thể, một nhóm các chứng khoán hoặc một chiến lược đầu tư cụ thể. Khi chỉ số hoặc tài sản đó tăng điểm thì ETF theo dõi nó cũng tăng giá theo. Mục tiêu của ETF là theo dõi thị trường, trong khi mục tiêu của các khoản đầu tư khác như quỹ tương hỗ là vượt lên thị trường.

Thông tin bên lề: Các ETF thường được phân loại theo loại chỉ số mà chúng theo dõi. Ví dụ như ETF vốn chủ sở hữu, ETF trái phiếu hoặc thu nhập cố định, ETF quốc tế, ETF lĩnh vực hoặc ngành, ETF trách nhiệm xã hội, ETF hàng hóa và ETF tiền tệ.

Cách hoạt động của ETF được mô tả như sau. Một quỹ ETF được tạo ra và thiết lập bởi một công ty cung cấp quỹ với mục tiêu theo dõi một chỉ số hoặc tài sản cụ thể. Sau đó, công ty cung cấp này mua các tài sản cơ sở và bán cổ phần của quỹ cho các nhà đầu tư. Khi bạn mua một cổ phiếu của quỹ ETF, bạn sở hữu một phần của quỹ, chứ không phải tài sản cơ sở.

Vì cổ phiếu của ETF được mua và bán tại tất cả các thời điểm trong ngày nên giá của ETF có thể tăng hoặc giảm. Điều này khác với các quỹ tương hỗ và quỹ chỉ số khi các quỹ này chỉ giao dịch một lần mỗi ngày khi thị trường đóng cửa.

Lợi thế chính của ETF là tính đa dạng hóa có nghĩa là sở hữu một quỹ ETF đồng nghĩa với đầu tư vào nhiều cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa và thậm chí cả các ngành công nghiệp khác nhau. ETF cũng được quản lý một cách thụ động bởi vì chúng theo dõi hiệu suất của một tài sản khác, do vậy chi phí hoạt động cũng thấp hơn. Berkel nói rằng: “Chi phí hoạt động thấp giúp các nhà đầu tư giảm tỉ lệ chi phí và tiết kiệm tiền để dành cho các chi phí đầu tư khác.”

Thêm vào đó, các quỹ được quản lý thụ động có xu hướng hoạt động tốt hơn các quỹ được quản lý chủ động về dài hạn. Và bởi vì các nhà đầu tư ETF chỉ bị đánh thuế khi họ bán đi khoản đầu tư và nhờ vậy họ có thể bị đánh thuế thấp hơn so với quỹ tương hỗ.

Ưu điểm Nhược điểm
  • Chi phí thường thấp hơn so với các quỹ được quản lý chủ động
  • Thường có lãi vốn chịu thuế ít hơn
  • Có thể mua một cổ phiếu ở mức tối thiểu
  • Mang lại lợi ích đa dạng hóa danh mục đầu tư
  • Các nhà đầu tư có thể bị giới hạn ở các cổ phiếu vốn hóa lớn
  • ETF có thể tính phí hoa hồng

Ví dụ về ETF

Hãy xem một ví dụ về quỹ hoán đổi danh mục. MJ theo dõi chỉ số Prime Alternative Harvest (chỉ số Thu hoạch Thay thế Chính) – chỉ số đo lường hoạt động của các công ty trong ngành công nghiệp cần sa. Khi bạn mua cổ phiếu quỹ ETF này, tiền của bạn được đầu tư vào nhiều loại hình công ty liên kết với ngành đó, chẳng hạn như dược phẩm, sản xuất và phân phối, nghiên cứu và phát triển sản phẩm.

Thay vì tập trung đầu tư của bạn vào một cổ phiếu duy nhất, ETF phân tán rủi ro của bạn trên nhiều công ty và phân khúc của ngành. Sự đa dạng hóa này đặc biệt quan trọng trong một lĩnh vực mới và đầy biến động như ngành công nghiệp cần sa.

Quỹ chỉ số là gì?

Quỹ chỉ số là một loại quỹ tương hỗ hoặc ETF theo dõi một chỉ số thị trường cụ thể. Berkel nói: “Họ làm điều này bằng cách sao chép các thành phần cơ bản trong chỉ mục.”

Đây là cách hoạt động của loại quỹ này: Một nhà quản lý quỹ chỉ số gom tiền từ nhiều nhà đầu tư và xây dựng một danh mục đầu tư gồm các cổ phiếu, trái phiếu hoặc chứng khoán riêng lẻ. Danh mục đầu tư mô phỏng thành phần của chỉ số mục tiêu, vì vậy giá trị của quỹ sẽ phản ánh lãi và lỗ của chỉ số đang được theo dõi. Một số quỹ chỉ số theo dõi chỉ số thị trường chứng khoán, như Chỉ số Bình quân Công nghiệp Dow Jones, trong khi những quỹ khác theo dõi các chỉ số ở các thị trường khác như trái phiếu, hàng hóa hoặc bất động sản.

Berkel nói: “Các quỹ chỉ số rất tuyệt vời ở chỗ chúng mang lại khả năng tiếp cận rộng rãi với một phân khúc cụ thể của thị trường, như cổ phiếu vốn hóa lớn hoặc tổng thị trường trái phiếu. ETF phù hợp hơn đối với các nhà đầu tư đang cố gắng tiếp cận với một phần cụ thể của thị trường hoặc những người đang cố gắng tích hợp các kỹ thuật quản lý rủi ro vào danh mục đầu tư. Ví dụ như tiếp cận các cổ phiếu hàng đầu từ ​​các quốc gia bị định giá thấp trên thế giới hoặc sử dụng các hợp đồng tùy chọn để giảm thiểu rủi ro giảm giá của danh mục đầu tư. “

Công ty quản lý quỹ sẽ mua cổ phiếu từ mọi công ty được liệt kê trên chỉ số hoặc mua cổ phiếu từ một mẫu đại diện. Khi quyết định số lượng cổ phiếu cần mua, công ty quản lý quỹ có thể sử dụng chiến lược đầu tư theo trọng số.

  • Hầu hết các quỹ chỉ số đều có trọng số đầu tư theo vốn hóa thị trường, có nghĩa là quỹ sở hữu nhiều cổ phiếu của các công ty có vốn hóa lớn nhất trong danh mục chỉ số hơn của các công ty nhỏ nhất.
  • Các quỹ chỉ số khác có trọng số theo giá, có nghĩa là các tài sản có giá cao hơn có tỷ trọng lớn hơn trong chỉ số so với các tài sản có giá thấp hơn.
  • Với các quỹ chỉ số có trọng số bằng nhau, mọi tài sản đều tỷ lệ sở hữu bằng nhau.

Công ty quản lý quỹ sau đó bán cổ phiếu của quỹ chỉ số cho các nhà đầu tư. Họ thường xuyên điều chỉnh tỷ lệ tài sản trong danh mục đầu tư, và sau đó chia cổ tức, lãi suất và lợi nhuận vốn cho các nhà đầu tư của quỹ. Quỹ chỉ số có thể là một cách tốt để giảm thiểu rủi ro vì các chỉ số luôn có xu hướng tăng theo thời gian cho dù giá của các cổ phiếu riêng lẻ có thể tăng và giảm. Cùng với đó là các lợi ích từ cách tiếp cận gián tiếp bao gồm chi phí thấp hơn so với các quỹ tương hỗ và lợi nhuận thường tăng cao hơn trong dài hạn.

Ưu điểm Nhược điểm
  • Rủi ro thấp hơn bởi tính đa dạng hóa rộng rãi
  • Hiệu suất mạnh mẽ trong dài hạn
  • Phí thấp hơn so với một số khoản đầu tư khác
  • Không phải là lựa chọn tốt để kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn
  • Bị ảnh hưởng bởi thị trường
  • Chỉ có thể giao dịch vào cuối ngày giao dịch
  • Chi phí mua vào có thể cao hơn so với ETF

Ví dụ về quỹ chỉ số

Hãy xem một ví dụ về quỹ chỉ số. Quỹ chỉ số Schwab S&P 500 theo dõi S&P 500 – một chỉ số thị trường chứng khoán đo lường hiệu quả hoạt động của 500 công ty lớn nhất của Hoa Kỳ. S&P 500 là một trong những chỉ số thị trường phổ biến nhất được nhiều quỹ theo dõi, vì vậy bạn có rất nhiều lựa chọn nếu muốn đầu tư vào đây.

Các công ty lớn nhất trong quỹ chỉ số của Schwab tương tự như trong chỉ số S&P 500 bao gồm Microsoft Corp., Apple Inc., Johnson & Johnson, Exxon Mobil Corp. và JPMorgan Chase & Co.

Các nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu của quỹ chỉ số. Trong ví dụ này, quỹ chỉ số Schwab sẽ phản ánh lãi và lỗ của S&P 500.

Tham khảo thêm:

Bài học tài chính

Các quỹ chỉ số và ETF đều là những lựa chọn đầu tư có rủi ro thấp, phí duy trì thấp và chi phí đầu tư thấp cùng với lợi nhuận ổn định theo thời gian. Tuy nhiên, những khoản đầu tư này không phải là phù hợp với tất cả.

Khi chọn một quỹ ETF hoặc quỹ chỉ số, bạn sẽ cần kiểm tra tài sản mà quỹ theo dõi và liệu bạn có cảm thấy phù hợp với cách đa dạng hóa của quỹ hay không. Sau đó, hãy so sánh tỷ lệ chi phí của từng quỹ cùng các khoản phí có thể phát sinh khác, chẳng hạn như hoa hồng để mua hoặc bán cổ phiếu quỹ.

Nhatkytraders.

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá:

Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận